Cải thiện NĂNG SUẤT gà đẻ với việc tối ưu hóa hệ vi sinh

 CẢI THIỆN NĂNG SUẤT GÀ ĐẺ VỚI VIỆC TỐI ƯU HÓA HỆ VI SINH

 

Với việc kháng sinh đang phải đối mặt với sự kháng thuốc của vi khuẩn cũng như các cơ quan chức năng đang siết chặt kiểm soát việc sử dụng, thậm chí một số loại kháng sinh đã bị cấm; người nông dân buộc phải tìm kiếm một giải pháp để thay thế nhằm hỗ trợ cải thiện năng suất của vật nuôi.

 

Giữ cân bằng hệ vi sinh là chìa khóa cho năng suất cao!

Cơ sở để có năng suất tốt trên gà đẻ là sự cân bằng tốt hệ vi sinh. Một nền tảng hệ vi sinh khỏe mạnh và ổn định hỗ trợ việc tiêu hóa thức ăn và phát triển đường ruột, tối ưu việc hấp thụ chất dinh dưỡng. Bên cạnh đó, đường ruột được nghiên cứu cho thấy có ảnh hưởng đến hệ thống miễn dịch và nhiều quá trình sinh lý khác (thụ trong ruột cung cấp bộ não với thông tin cần thiết). Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của một hệ vi sinh ổn định và đa dạng cho năng suất tối ưu! Khi hệ vi sinh không đa dạng và không cân bằng, thú nuôi sẽ gặp phải khó khăn khi đối phó với những thay đổi trong môi trường (vd: khí hậu, thức ăn) và những yếu tố gây stress (stress nhiệt, các tương tác bên ngoài).

 

Đồng và Kẽm trong thức ăn có tác động lớn đến môi trường

Các kim loại như đồng và kẽm được biết đến với tác dụng kiểm soát quần thể vi sinh vật, bằng cách làm mất độ ổn định các màng tế bào của vi khuẩn gây bệnh. Tuy nhiên, tác động môi trường và các quy định pháp lý nghiêm ngặt nhằm giảm thiểu mức độ bài tiết cao của các kim loại này qua phân ra môi trường, là một rủi ro đối với các nhà chăn nuôi vì phải sử dụng một lượng lớn để các chất này có tác dụng.

Sử dụng liều lượng cao trong thức ăn là cần thiết, bởi vì nó có thể tạo ra các hợp chất (với nguồn chất xơ hoặc protein trong dạ dày và ruột), hoặc bị hấp thụ. Trong cả hai trường hợp thì kim loại không có sẵn trong ruột nữa để tác động đến vi khuẩn gây bệnh.

 

Một sự kết hợp hiệp lực

Việc kết hợp đồng và khoáng sét có thể là giải pháp. Một dạng vật chất không hòa tan và do vậy, không bị hấp thụ đảm bảo rằng đồng có thể hiện diện trong ruột, nơi mà nó có thể ảnh hưởng đến vi sinh vật nhiều nhất. Khoáng sét trong B-SAFE có khả năng giữ đồng hoạt động trong đường ruột, do vậy, chỉ cần một lượng đồng rất nhỏ cần thiết tac động lên vi khuẩn. Đây là khoáng sét tổng hợp nên sẽ giảm thiểu tối đa rủi ro gây nhiễm độc như các kim loại nặng. Cấu trúc xốp và kích thước nhỏ của các chất mang giúp hòa lẫn đều trong thức ăn và hỗn hợp thức ăn của thú nuôi. Mức độ phân tán tốt là cần thiết để tăng tiếp xúc với hệ vi sinh để có kết quả tốt nhất.

 

Tác động lên năng suất và hệ vi sinh ở gà đẻ

Trong một thử nghiệm trước đây ở Mexico (cơ sở nghiên cứu bên ngoài), B-SAFE được chứng minh có tăng hiệu quả năng suất và thức ăn trong điều kiện phòng thí nghiệm. Hiện tại, một thử nghiệm mới được tiến hành trong điều kiện thương mại, với 6614 gà đẻ (Bovans White) để chứng minh hiệu quả của B-SAFE về năng suất, chất lượng trứng và vi sinh vật. Gà được cho ăn trong 5 tuần với chế độ ăn thông thường (bao gồm men vi sinh và kháng sinh, “nhóm đối cứng), và chế độ như “nhóm đối chứng”, có bổ sung thêm 200 g/tấn B-SAFE HC. Gà được 46 tuần tuổi khi tiến hành thí nghiệm, với các phép đo khác nhau được tiến hành 1 tuần sau khi gà được làm quen với khí hậu (47-51 tuần tuổi). Bên cạnh đó, gà cũng được theo dõi để xem có bất kỳ hiệu ứng tồn dư nào trong 5 tuần sau điều trị (52 – 56 tuần tuổi).

Hình 1. Tỷ lệ đẻ, theo dõi trên gà từ lúc điều trị đến 5 tuần sau đó, để quan sát các ảnh hưởng tồn dư.

 

Nhóm gà được bổ sung B-SAFE cho thấy có tỷ lệ cải thiện theo tuần, khi so sánh với nhóm đối chứng (hình 1). Năng suất tăng nhưng không làm tăng tỷ lệ tiêu tốn thức ăn. Sau 5 tuần điều trị, sự khác biệt trong năng suất giảm từ từ. Những kết quả này cho thấy phải mất một thời gian để nhận biết hiệu quả của B-SAFE, tuy nhiên, tác dụng sẽ giảm dần sau khi điều trị.

 

c

 

c

 

b

 

a

 

Hình 2. Tỷ lệ % số lượng trứng được sản xuất đạt tiêu chuẩn kinh doanh (không bị vỡ hoặc dính máu bẩn), trong suốt quá trình điều trị đến 5 tuần sau đó để quan sát ảnh hưởng tồn dư.

 


 

 

Tỷ lệ % của số lượng trứng đạt tiêu chuẩn kinh doanh cũng cải thiện (cải thiện đáng kể, P < 0.05) (hình 2). Điều này phần lớn là do giảm thiểu đáng kể trứng dính máu bẩn (hình 3). Trứng có dính máu bẩn là do gặp vấn đề về tiêu hóa ở gà đẻ. Chất lượng trứng được cải thiện đáng kể khi sử dụng B-SAFE, và giảm nhau trong những tuần điều trị tiếp theo.

f

 

f

 

e

 

d

 

Hình 3. Tỷ lệ % trứng dính máu bẩn, trong quá trình điều trị và 5 tuần sau đó.

 

 

Hình 4. Quần thể Clostridium trong phân của gà; vào lúc bắt đầu (Day 0), trong tuần điều trị cuối cùng (Day 31) và 5 tuần sau khi điều trị (Day 70).

 

Quần thể Clostridium trong phân của gà được đo trong thời điểm bắt đầu điều trị (không có khác biệt), trong tuần điều trị cuối cùng (90% giảm khi sử dụng B-SAFE, so với nhóm đối chứng), trong tuần điều tị cuối cùng (84% giảm với nhóm B-SAFE, so với nhóm đối chứng) (Hình 4). Điều này cho thấy B-SAFE có ảnh hưởng trực tiếp đến quần thể vi sinh vật có hại.

 

 

 

 

Kết luận

Việc kết hợp khoáng sét tổng hợp với đồng hoạt tính trong B-SAFE làm tăng năng suất trứng và cải thiện tiêu hóa thức ăn trên gà đẻ, trong điều kiện phòng thí nghiệm. Hiện tại, nó đã được chứng minh về hiệu quả trong điều kiện thương mại, khi được sử dụng chung với các chất có ảnh hưởng đến hệ vi sinh vật khác. Không những làm tăng năng suất mà còn làm tăng chất lượng trứng. Những kết quả này cho thấy cần có thời gian để sản phẩm đạt mức độ cao nhất lên gà đẻ, tuy nhiên, độ cải thiện giảm dần sau khi sử dụng. B-SAFE do vậy, là giải pháp khả thi để thay thế việc sử dụng các loại khoáng liều cao, hoặc các chất kháng sinh kích thích tăng trọng nhằm tăng năng suất ở gà đẻ.

Mieke Zoon – Pancosma

Bài viết cùng danh mục:

Viết Bình luận